LƯ DUYÊN SINH HAY TINH THẦN VÔ NGĂ

Thích Nguyên Siêu


 

Tất cả đều là giả tạm và cuộc đời là một nỗi đau khổ lớn. Đây là động cơ lớn thúc đẩy Thái tử ra đi t́m chân lư.

Ngài đă từ giă tất cả những ǵ yêu quư nhất đời Ngài, để rồi bao nhiêu năm thể nghiệm về nỗi thống khổ đang hiện hữu giữa muôn loài, Ngài đă khám phá ra nguyên nhân của những khổ đau ấy, đó chính là chấp ngă. V́ lư do chấp ngă mà tạo thành bao h́nh trạng của đời này.

Sau khi Thái tử đă thể hội Lư Duyên Sinh và hoàn toàn giác ngộ thành bậc Chánh Đẳng Giác, một hôm Đức Phật dạy Ngài A Nan rằng: "Này A Nan, chính v́ không giác ngộ, không thấu hiểu giáo pháp này mà chúng sinh hiện tại rối loạn như ổ kén; rối ren như ống chỉ; giống như cỏ mun9ja và lau sậy babaja, không thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đọa xứ và sanh tử".

Trong ư nghĩa này, Đức Phật đă hệ thống hóa ṿng xích 12 nhân duyên nối chuyền tử vô minh đến sanh, lăo, tử: "do Vô Minh Duyên Hành, Hành Duyên Thức, Thức Duyên Danh Sắc, Danh Sắc Duyên Lục Thập, Lục Thập Duyên Xúc, Xúc Duyên Thọ, Thọ Duyên Ái, Ái Duyên Thủ, Thủ Duyên Hữu, Hữu Duyên Sanh Lăo Tử, mà h́nh thành một khối khổ đau đoanh vây và quấn chặt lấy nhau".

Từ đây chúng ta thấy rằng do nhơn duyên nên mọi hiện tượng được tạo thành, và v́ có duyên sinh nên tự thể của các sự vật th́ vô ngă, vô thường, khổ, không, chịu sự hủy diệt. Như vậy đây là toàn bộ khổ uẩn của 12 móc xích nhân duyên sinh khởi và toàn bộ khổ uẩn này hủy diệt mà thật ra ta không thấy có một cái ngă nào sinh khởi và hủy diệt cả. Có người đặt câu hỏi: Ai vô minh? Ai hành? Ai cảm xúc? và Ai khổ?... Câu hỏi này không thích hợp với tinh thần giáo lư Duyên khởi, mà ngược lại chúng ta phải đặt câu hỏi là: Do nguyên nhân nào mà vô minh hiện hữu? Khổ hiện hữu? Như vậy mới đúng trên nguyên tắc lập luận và như vậy câu trả lời sẽ là: Sở dĩ có khổ hiện hữu là v́ do xúc mà phát sinh - khổ thuộc cảm thọ. Với chủ trương của các luận thuyết, họ cho rằng: "Khổ do tự ḿnh làm ra - thường kiến - hoặc do người khác làm ra - đoạn kiến - hoặc do người khác cùng làm, hoặc do tự nhiên sinh - do không cùng ḿnh và người cùng làm". Các chủ trương này là ngoại đạo.

Cũng trên quan điểm này, Tôn giả Xá Lợi Phất đă tuyên bố như sau: "Nếu khổ do ḿnh làm ra hay người khác làm ra th́ khổ ấy sẽ không cần xúc. Sự kiện này không thể xảy ra.". Rồi những câu hỏ được đặt ra liên quan đến ngă: "Quá khứ ta làm ǵ? Ta có mặt như thế nào? Ta sẽ có sắc hay không? Hiện tại ta là ai? Ta có sắc hay không?... Tất cả những câu hỏi này thảy đều vọng tưởng, không thuộc chánh kiến về lư Duyên khởi, Duyên sinh." Và như vậy một khi chúng ta đă phủ nhận cái Ta, th́ hiện tại ai là kẻ thừa tự giáo pháp, học hỏi đạo nghĩa, đoạn trừ sinh tử khổ đau và chứng đắc Niết Bàn? Mới nghe qua, ta tưởng các câu hỏi ấy là đúng, nhưng kỳ thật làm sao có nghĩa và hợp lư được, khi mà mọi sự đều chuyển ḿnh trong ṿng đai 12 móc xích Duyên sinh tạo thành. Vậy th́ ta làm sao t́m thấy cái Ta trong chuổi biến dịch liên tục giả hợp ấy? Như vậy do đâu mà con người cho là cái Ta để rồi: "Cái này là Tôi, cái là sở thuộc của Tôi, cái nà là tự ngă của Tôi". Đay, không ngoài sự lầm tưởng các pháp là giai hữu và tự thể là trường tồn. Sự lầm tưởng chính là sản phẩm của suy tư. Do v́ suy tư mà tôi nói có cái nhà, kỳ thật cái nhà là ǵ? - Là nền, là vách, là mái, là kèo cột hợp thành. Vậy cái nhà không có tự ngă mà do các yếu tố kết hợp lại thành h́nh mà thôi. Đây chính là điểm hoàn toàn vô lư của suy tư. Do suy tư mà bóp méo thực tại. Do suy tư mà đánh mất sự thật của sự vật là vô ngă. Và như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng cái "Tôi" ở đây cũng chính là sản phẩm của sự suy tư. Như vậy, khi người nào phát khởi tâm tư để hỏi và kẻ trả lời câu hỏi tất cả đều do tâm tư vọng niệm, v́ kẻ hỏi và người trả lời không nằm ngoài phạm trù của suy tư, mà trong khi đó thực tại là vô ngă. Vậy th́ chúng ta có thể nói rằng thế giới hữu ngă là thế giới của suy tư, c̣n thế giới vô ngă chính là thế giới của thực tại, sống động linh hoạt.

Chúng ta nh́n qua lăng kính Duyên khởi, thế giới này rơ thật là hoàn toàn vô ngă mà trong kinh Kim Cương đă thể hiện tinh thần này một cách tuyệt đối: "Nhứt thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điển." hoặc "Nhức thiết pháp vô ngă, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả".

Bản thể của sự vật vốn là vô ngă cho nên thực tại mới diệu dụng. Chính tự thể là vô ngă nên nó mới biến ra được nhiều h́nh trạng khác nhau. Diệu dụng hữu, một cách tài t́nh trong thế giới trùng trùng duyên khởi và luôn luôn hiện hữu trong tự thể của chính nó. V́ vô ngă nên pháp không có sự chướng ngại với nhau mà đều tương dung, tương nhiếp, nếu ngược lại sự vật có một cái ngă của chính nó, nó tồn tại với chính nó mà nó không là cái khác th́ bản tính linh hoạt của sự vật sẽ chết ngay trong tự thể của nó. Và v́ thực tại vốn dĩ là vô ngă, cho nên tinh thần bất nhị đă thể hiện "Phiền năo tức Bồ đề và sanh tử tức Niết Bàn". Nếu sự thật của sự vật không là như vậy - nghĩa là một ngă tính th́ phiền năo sẽ vĩnh viễn là phiền năo và muôn đời sẽ không là Bồ Đề và dù chúng sinh có tu tập th́ sinh tử vẫn là sinh tử, chẳng bao giờ thể nhập chân như, tịch tịnh Niết Bàn. Bản tánh các pháp là vô ngă tự tính nên con người mới giải thoát mọi ngục tù của si mê để chuyển thành đại ngộ. Thế giới "Vọng, Niệm, Thành, Sinh, Diệt" của ngă tướng hoàn toàn không thực này chỉ tồn tại một cách thật mong manh như vậy nên con người mới có khả năng "Nhất Niệm Thông Tam Giới" và v́ không thực thể nên "trông ra bến hoặc bờ mê, ngàn thu nữa chớp bốn bề một phương".

Trên bước đường tiến về chân trời giải thoát, nơi đây thế giới Hoa Nghiêm đă mở rộng, khi Thiện Tài Đồng Tử diện kiến Đại Lâu các trang nghiêm tạng, được hóa hiện bởi Đức Phật Di Lặc: "Đại Lâu các này là trụ xứ của những ai đă hiểu ư nghĩa không, vô tướng, vô nguyện, của những ai đă hiểu rằng hết thảy các pháp đều là vô phân biệt, rằng pháp giới vốn là vô sai biệt, rằng chúng sinh giới vốn là bất khả đắc, rằng hết thảy pháp vốn là vô sinh. Đay là trú xứ, nơi thường thích ở đối với những ai biết rằng hết thảy các pháp đều không tự tánh, những ai không phân biệt pháp bất cứ loại tướng nào". Quang cảnh trong Lâu các đă diễn bày trước mắt Thiện Tài Đồng Tử đó chính là thực cảnh các pháp đang hiện diện dưới nhăn quan của chúng ta qua khung kính vô ngă, vô chấp, vô trước và đay cũng chính là con đường dẫn đến Giải thoát.

Tất cả mọi sự vật chung quanh ta thảy đều mang một tự tính là vô ngă, nếu chúng ta có một cảm giác nhậm lẹ th́ sẽ nhận diện thực tướng của các pháp dễ dàng và cũng chính nơi đây ta sẽ liễu tri được tự thân con người sinh ra lớn lên rồi già nua và hủy hoại. Đây chính là tiến tŕnh Thành, Trụ, Dị, Diệt của các pháp. Tại sao chiếf lá trên cành ngày trước c̣n xanh tươi, nhưng qua hôm sau chiếc lá lại thay màu, rồi rơi về cội? Phải chăng chiếc lá ấy chịu sự chi phối của luật vô thường và chuyển ḿnh theo lư Duyên sinh: "Cái này sinh tồn nên cái kia cũng sinh tồn, cái này hủy diệt nên cái kia cũng hủy diệt" Một sự hủy diệt dây chuyền, không hề có sự gián đoạn, ngăn cách. Nếu một khi chúng ta thấy rơ bản lai diện mục của các pháp, th́ nơi kia một đóa hoa úa tàn, một áng mây tan hay một vần trăng khuyết th́ chúng ta trực nhận rằng: Đó chính là vô ngă, vô thường của sự vật vậy.

Trong nhiều trường hợp, đệ tử Phật chứng ngộ một cách thật mau lẹ v́ trực ngộ được được vạn pháp giai không thật nhiệm mầu. Như trong Trưởng lăo ni kệ một nữ Phật tử sống đời gia đ́nh với chồng con, rồi một hôm nấu ăn dưới bếp, bà nh́n thấy cọng rau xanh đổi màu vàng khi xào nấu trong chảo dầu sôi, bà chợt nhận ra lẽ vô thường đó và chứng đắc A Na Hàm. Sau đó bà xuất gia đắc quả A La Hán.

Tóm lại, sự vật luôn hiển bày chân thật tướng của chính nó là vô ngă, nếu chúng ta biết suy tư, chiêm nghiệm th́ sẽ thể hội được thực tướng ấy ngay. C̣n như chúng ta mang một tâm tư nhận bóng trăng dưới nước cho là trăng thật th́ thế giới này sẽ bị đảo lộn tất cả từ con người cho đến thiên nhiên ngoại vật. Nếu chúng ta b́nh tĩnh hơn một tí nữa, nh́n sợi dây chính thực là sợi dây mà không là con rắn th́ thế giới không thể đánh lừa được nơi ta, không c̣n có khả năng hấp dẫn và lôi kéo chúng ta, đây là sắc khả ái, khả lạc, khả hỷ... ta b́nh tĩnh tự tại thơng tay vào chợ mà không quan tâm rằng đây là vô thường, hay kia là khổ, không, vô ngă.

Thích Nguyên Siêu
trích "tập san nghiên cứu Phật học - Phật Việt số 1"
do Trung Tâm Phát Huy Văn Hóa Phật Giáo Hải Ngoại phát hành

 

 

 
 

Trở về trang Phật Học